Bài viết được quan tâm

Thẻ

Tác dụng của bùn khoáng

                  

TẮM BÙN KHOÁNG TRỊ BỆNH
(TS. Phạm Quang Lung) Ngâm tắm bùn khoáng, nước khoáng đã có từ thời Hy Lạp cổ đại. Từ những nǎm 1820 tắm bùn khoáng, nước khoáng ngày càng được sử dụng rộng rãi ở châu Âu, nhất là các nước Nga, Đức, Pháp…

Bùn khoáng chữa bệnh

Bùn khoáng được hình thành do biến đổi của địa chất, có nguồn gốc từ thực vật, hoặc đất đai, sinh ra do biến đổi sinh học của các chất hữu cơ, vô cơ. Bùn thường được khai thác ở mỏ, ở suối, ở biển hoặc cửa sông. Bùn khoáng sử dụng trong điều trị được chia ra làm 2 nhóm chính:

– Nhóm sinh ra từ quá trình trầm tích (cặn lắng chữa bệnh) từ những chất hữu cơ, vô cơ hay do sự phát triển của những vi thể có các chất: estrogen, progesteron, carbonat, sulfat… Thường là những chất có liên quan đến nguồn nước. Đây là nhóm thường gặp và được sử dụng nhiều nhất.

– Nhóm sinh ra từ quá trình tan rã của đá (đất chữa bệnh). Nhóm này gồm chủ yếu là các nguyên tố vô cơ có nguồn gốc khoáng chất.

Tính chất lý, hóa của bùn là do các thành phần cấu tạo nên bùn như các muối, ion, acid… và làm nên khả nǎng chữa bệnh của bùn. Chẳng hạn, tỷ trọng của bùn lớn do bùn được tạo thành từ các chất khoáng, được sinh ra từ các hồ nước mặn. Do tỷ trọng của bùn cao, nên da được chèn ép. Độ khuếch tán, độ dẻo của bùn phụ thuộc vào các hạt do chất khoáng tạo thành. Độ khuếch tán càng lớn thì độ dẻo dính càng nhiều và bùn càng bám chặt vào da, chui vào các lỗ lồi lõm không đều, các rãnh của da và làm tǎng tác dụng trên da. Các loại bùn nói chung đều có tính chất giữ nhiệt trong thời gian dài hơn so với lượng nước có cùng nhiệt độ. Bùn còn có khả nǎng giữ nước, nhất là các loại bùng có chất hữu cơ từ nguồn gốc thực vật. Liệu pháp bùn khoáng được chỉ định để điều trị một số bệnh viêm khớp dạng thấp, đặc biệt bộ máy vận động, bệnh của hệ thần kinh ngoại biên, tình trạng viêm mạn tính hệ sinh dục và một số bệnh ngoài da (vẩy nến…).

Nước khoáng chữa bệnh

Nước khoáng là một loại nước tự nhiên, có hàm lượng chất rắn trên 1g/lít, nhiệt độ thường trên 200C, có tác dụng chữa bệnh, nâng cao sức khỏe. Một số nguồn nước khoáng được dùng để uống, điều hòa chức nǎng cơ quan nội tạng. Do nguồn nước khoáng có tỷ trọng lớn, tạo nên sự hạ thấp trọng lượng của cơ thể trong nước, tạo thuận lợi cho việc thực hiện các cử động hạn chế do tổn thương gây nên. Chính vì vậy, người ta sử dụng liệu pháp nước khoáng để điều trị bệnh thấp khớp mạn, thoái hóa khớp, một số bệnh thần kinh ngoại biên, các di chứng của liệt. Thành phần của nước khoáng là các cation và anion như: Na+, K+, Fe++, Mg++, NH4-, Cl-, SO4- -, CHO3-, …, có tác dụng kích thích tính thẩm thấu qua da. Sự kích thích ở mức độ vừa phải và kéo dài này làm tǎng cường các chức nǎng ở da. Khi tắm nước khoáng, tạo nên sự trao đổi lớn giữa da và nước khoáng. Liệu pháp nước khoáng là liệu pháp tác dụng toàn thân, tác dụng lên toàn bộ cơ thể.

Lợi ích của tắm bùn khoáng, nước khoáng đối với cơ thể rất rõ ràng:

Gây kích thích mạnh trên da: do các muối và chất có trong nước khoáng, nhất là các chất: NaCl, CO2, H2O… Dưới tác dụng kích thích này, lượng acetylcholin và histamin phóng ra lớn hơn, do đó tác dụng tại chỗ và toàn thân mạnh hơn.

Tǎng khả nǎng nhạy cảm của da. Trong khi đó tắm nước thường ở cùng nhiệt độ như nước khoáng lại làm giảm độ nhạy cảm của da.Tǎng trao đổi ion giữa nước và da. Nhờ sự trao đổi này, tǎng tác dụng chuyên hóa của cơ thể.Sau khi tắm nước khoáng, một phần muối của chúng còn lại trên da (lớp áo muối).

Phần lớn các muối này hút nước, hấp thụ nước làm cho tuần hoàn ở da mạnh lên và tạo điều kiện cho da bài tiết một số độc tố.

Do vậy bùn khoáng, nước khoáng thường được áp dụng trong điều trị, phục hồi chức nǎng một số bệnh xương khớp mạn tính, thoái hóa khớp, đặc biệt khớp gối; một số bệnh da như chàm mạn tính, vảy nến, hội chứng thần kinh ngoại biên, viêm phần phụ mạn tính, bệnh chuyển hóa…